CHUYỆN KHÔNG HÚ LUẬN

Go down

CHÀO TINH TẤN CHUYỆN KHÔNG HÚ LUẬN

Bài gửi  haquangto on Tue Dec 15, 2009 12:33 am

CHUYỆN KHÔNG HÝ LUẬN
(Tiền thân Apaṇṇaka)

Có một số người đã nói lên…

Đức Thế Tôn kể câu chuyện này trong khi trú tại đại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) gần thành Xá-vệ (Sāvatthi).

Nhưng do ai câu chuyện này được kể?

Đó là năm trăm người bạn ngoại đạo của Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anātha-Piṇḍika).

Một hôm, Trưởng giả Cấp Cô Độc đưa năm trăm người bạn của mình đều là những đệ tử ngoại đạo đi đến tinh xá Kỳ Viên. Ông cũng mang theo rất nhiều vòng hoa, nước hương, y dược, cùng với dầu, mật, đường, vải và y áo đến đó. Sau khi cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn, ông cúng dường lên Ngài những vòng hoa.., và dâng cho Tăng chúng y dược…cùng với y áo. Sau khi cúng dường xong, ông ngồi xuống một bên, tránh xa sáu sự lỗi lầm trong khi ngồi. Tương tự như vậy, những đệ tử ngoại đạo cũng đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống gần bên Trưởng giả Cấp Cô Độc, ngắm nhìn sắc mặt sáng rực như mặt trăng rằm của đức Thế Tôn, ngước nhìn sắc tướng tối ưu có đầy đủ các tướng tốt của Phật quả, tỏa ánh sáng rộng một sải, và ngắm nhìn hào quang của đức Phật, một thứ hào quang phóng ra như hai vòng hoa ghép lại, từng cặp chồng lên nhau.

Thế rồi, bằng tiếng nói vang vọng như tiếng sư tử trẻ rống lên trong thung lũng Hùng Hoàng, như một cơn mây bão vào mùa mưa, như sông Hằng Thiên giới (Ngân hà) ầm ầm đổ xuống, và âm thanh như đan dệt lại thành một chuỗi ngọc; lại bằng một giọng nói đủ tám phần hoàn hảo, hấp dẫn làm thích thú tai nghe, Ngài thuyết giảng cho họ một bài pháp đầy dịu ngọt và sáng chói với nhiều vẻ đẹp khác nhau.

Sau khi nghe pháp ngữ của đức Thế Tôn, với tâm tịnh tín, họ đứng lên cung kính đảnh lễ bậc Chánh Trí, phá bỏ những giáo thuyết mà họ đã quy y trước đây và quy y theo đức Phật. Từ đó về sau, họ thường cùng với Trưởng giả Cấp Cô Độc mang nước hương và vòng hoa…đến nghe Pháp ở tinh xá. Rồi họ thực hành bố thì, thọ trì giới luật và tu tập Bát quan trai giới.

Bấy giờ, đức Thế Tôn từ thành Xá-vệ trở lại thành Vương-xá (Rājagaha). Khi đức Thế Tôn đi rồi, họ lại phá vỡ niềm tin mới và quay lại quy y vào những giáo thuyết ngoại đạo, trở về lại tình trạng ban đầu của họ.

Sau bảy tám tháng lưu trú ở Vương-xá, đức Thế Tôn quay trở lại Kỳ Viên. Thêm một lần nữa, Trưởng giả Cấp Cô Độc cùng với những người bạn này của ông đi đến đức Thế Tôn, đảnh lễ và dâng cúng nước hoa…rồi ngồi xuống một bên. Sau đó, Trưởng giả Cấp Cô Độc bạch lại với đức Thế Tôn sự việc, rằng khi đức Thế Tôn ra đi du hoá, những người bạn của ông đã từ bỏ pháp quy y và quay trở lại tình trạng ban đầu của họ.

Mở miệng hoa sen của mình, giống như mở hộp châu báu, tỏa hương thơm tuyệt diệu với đầy đủ những hương thơm nhờ công đức nói lời chánh ngữ từ vô lượng kiếp, đức Thế Tôn đã phát ra lời ái ngữ khi Ngài hỏi:

– Này các Ưu-bà-tắc, có đúng là các vị đã từ bỏ Tam bảo để quy y theo những giáo thuyết ngoại đạo không?

Khi không thể che dấu được sự việc, họ đã thú nhận và nói:

– Bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy.

Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

– Này các Ưu-bà-tắc, không đâu ở giữa địa ngục A tỳ bên dưới và cõi trời Hữu đãnh phía trên, không đâu trong tất cả vô lượng vô biên thế giới có một người bằng Như Lai về công đức giữ giới và những công hạnh khác, chứ đừng nói gì tối ưu hơn Như Lai.

Sau đó, Ngài thuyết giảng cho họ những công đức của Tam bảo như đã được đề cập trong các kinh:

– Này các Tỳ-kheo, trong tất cả chúng sanh dù không chân, hai chân, bốn chân hay nhiều chân, Như Lai là tối thắng hơn cả. Không có thứ gì ở thế giới này hay những thế giới khác tối thắng hơn Như Lai. Như Lai quả thực là bậc tối thượng giữa các đệ tử…

Rồi Ngài nói tiếp:

– Không có người đệ tử nào, dù là nam hay nữ, những người đã quy y theo Tam bảo có đầy đủ công đức tối ưu như vậy lại đọa lạc vào chốn địa ngục hay những ác thú. Trái lại, thoát khỏi hoàn toàn sự tái sanh vào những ác thú, họ được sanh về thiên giới, và ở đấy thọ nhận được nhiều vinh quang lớn lao. Do đó, khi các vị từ bỏ quy y Tam bảo để tin tưởng vào dị giáo là các vị đã đi lầm đường.

(Và sau đây là những đoạn kinh được trích dẫn để làm rõ ý nghĩa, rằng không có một người nào đã quy y Tam bảo, tìm thấy được giải thoát và công đức tối thắng lại bị tái sanh vào những cảnh giới khổ đau:

Những ai quy y vào đức Phật

Sẽ không đọa vào cõi khổ đau

Khi bỏ thân người, họ sẽ được

Đạt lấy thân trời ngay liền sau.



Những ai quy y vào Chánh pháp

Sẽ không đọa vào cõi khổ đau

Khi bỏ thân người, họ sẽ được

Đạt lấy thân trời ngay liền sau



Những ai quy y vào Tăng già

Sẽ không đọa vào cõi khổ đau

Khi bỏ thân người, họ sẽ được

Đạt lấy thân trời ngay liền sau



Những ai quy y vào muôn vật

Sơn lâm, vườn rừng hay thần cây

Quy y như vậy không an ổn

Tối thượng quy y, không phải đây

Sẽ không thoát khỏi mọi đau khổ

Khi lại quy y những thứ này.



Quy y vào Phật, Pháp và Tăng

Nương vào chánh tuệ thấy rõ rằng

Khổ đế, nhân khổ và khổ diệt

Đạo đế, Bát thánh tám chi phần.



Quy y như vậy được an ổn,

Tối thượng quy y, chính là đây

Sẽ được giải thoát mọi đau khổ

Nếu ai quy y vào pháp này.

Nhưng đức Thế Tôn không kết thúc pháp thoại tại đây, mà Ngài còn nói tiếp:

– Này các Ưu-bà-tắc, chuyên tâm tưởng nhớ đến Phật, chuyên tâm tưởng nhớ đến Pháp, chuyên tâm tưởng nhớ đến Tăng, chính điều ấy giúp các vị chứng nhập Dự lưu qủa, Dự lưu đạo; Nhất lai quả, Nhất lai đạo; Bất hoàn quả, Bất hoàn đạo; và A-la-hán quả, A-la-hán đạo.

Sau khi dùng những phương tiện khác nhau để thuyết pháp cho họ xong, đức Thế Tôn nói:

– Với việc từ bỏ quy y Tam bảo như vậy, các vị đã đi lạc lối.

(Và ở đây, những quả vị và những đạo lộ khác nhau dành cho những ai chuyên tâm quán niệm đến đức Phật…cần được giảng giải rõ ràng bằng những lời kinh như sau:

– Này các Tỳ-kheo, có một pháp mà nếu thực hành và tu tập sẽ đưa đến yểm ly, chấm dứt tham ái, chấm dứt hữu, đạt được tịch tịnh, tuệ quán, giác ngộ, Niết bàn. Pháp này là gì? Đấy là chuyên tâm tưởng nhớ đến đức Phật.)

Sau khi khích lệ các cư sĩ như vậy rồi, đức Thế Tôn nói:

– Này các Ưu-bà-tắc, cũng như vậy vào đời quá khứ, có những người đã vội vàng đi đến kết luận ngu ngốc, xem những gì không phải là nơi quy y là nơi quy y chân thực, nên đã trở thành nạn nhân của lũ quỷ Dạ-xoa trong sa mạc ma quỷ và bị diệt vong hoàn toàn; trong khi những người chí thành với giáo pháp chân thực và vô tranh, đã đạt được an ổn trong cùng một nơi chốn như vậy.

Và khi nói lời này xong, đức Thế Tôn giữ im lặng.

Sau đó, cư sĩ Cấp Cô Độc từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, tán thán Ngài bằng cách cung kính chắp tay đưa lên ngang trán và bạch:

– Bạch đức Thế Tôn, thật rõ ràng cho chúng con thấy trong đời hiện tại, rằng các vị cư sĩ này đã bị tà kiến dẫn dắt nên từ bỏ nơi quy y tối thượng. Nhưng vào đời quá khứ, sự diệt vong của những người kiến thủ ở trong sa mạc ma quỷ và sự an ổn của những người chí thành với Chánh pháp thì chúng con đều bị che khuất không thể nhìn thấy, và chỉ một mình Thế Tôn biết được. Vậy cầu mong Thế Tôn giảng giải điều này cho chúng con được rõ, giống như làm cho mặt trăng tròn đầy mọc lên giữa bầu trời.

Thế rồi đức Thế Tôn nói:

– Này các cư sĩ, Như Lai đạt được toàn trí chính nhờ từ vô lượng kiếp đã thành tựu Thập ba la mật, rũ bỏ những chướng ngại của thế gian. Các vị hãy chí thành lắng nghe, thận trọng giống như các vị đang rót chất tuỷ của con sư tử vào một cái ống nhỏ bằng vàng.

Sau khi khích lệ để cho Trưởng giả chú ý như vậy, đức Thế Tôn tuyên thuyết rõ ràng Tiền sanh đã bị che lấp, giống như làm tan đi lớp băng tuyết để cho mặt trăng tròn đầy hiễn lộ giữa không trung.

* * *

Thuở xưa, tại kinh thành Ba-la-nại (Benares) thuộc vương quốc Ca-thi (Kāsi), có một vị vua tên là Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì. Bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh vào trong gia đình một vị thương nhân. Và khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát thường hành trình buôn bán khắp nơi cùng với năm trăm cỗ xe, khi thì đi từ phương đông đến phương tây, khi thì đi từ phương tây đến phương đông. Tại Ba-la-nại, cũng có một vị thương nhân trẻ khác, một gã đần độn ngu ngốc, thiếu sự lanh lợi tháo vát.

Bấy giờ, vào thời điểm của câu chuyện, Bồ-tát chất đầy những mặt hàng quý giá của xứ Ba-la-nại lên năm trăm cỗ xe, tất cả sẵn sàng để xuất hành. Và vị thương nhân trẻ tuổi đần độn này cũng làm như vậy. Bồ-tát nghĩ, “Nếu gã thương nhân trẻ tuổi ngu ngốc này cùng đi với ta, và năm trăm cỗ xe cùng đi với nhau thì con đường sẽ bị chật, sẽ rất khó khăn để kiếm nước, củi…cho đoàn người và rơm cỏ cho đàn bò. Hoặc ta hoặc gã một người phải đi trước.” Vì thế, Ngài cho mời vị kia đến và đưa ra ý kiến của mình. Ngài nói:

– Này anh bạn, hai chúng ta không thể đi cùng với nhau được, anh muốn đi trước hay muốn đi sau?

Vị kia nghĩ: “Nếu ta đi trước, ta sẽ có được nhiều thuận lợi. Ta sẽ có một con đường còn nguyên vẹn. Đàn bò của ta sẽ có được phần cỏ tốt nhất. Đoàn người của ta sẽ có phần rau củ tốt nhất để làm món ca ri. Nước sẽ không bị vấy đục. Và cuối cùng, ta sẽ tự định giá cả trong việc trao đổi những mặt hàng của mình.” Nghĩ như thế, anh ta trả lời:

– Này anh bạn, tôi sẽ đi trước.

Trái lại, Bồ-tát thầy đi sau có nhiều thuận lợi hơn. Ngài nghĩ thế này: “Những người đi trước sẽ san bằng con đường còn gồ ghề lởm chởm, sau đó ta sẽ đi cùng con đường mà họ đã đi qua. Đàn bò của họ sẽ gặm thứ cỏ già cỗi, trong khi đàn bò của ta sẽ gặm thứ cỏ ngọt tươi mà nó mọc nơi con đường đó. Đoàn người của ta sẽ tìm được thứ rau củ tươi ngọt để làm món ca ri tại nơi những thứ rau già đã bị nhổ đi. Nơi đó không có nước, đoàn người đi trước sẽ phải đào giếng để lấy nước dùng, và ta sẽ uống nước tại những cái giếng mà họ đã đào. Tranh cãi giá cả sẽ làm hỏng công việc buôn bán. Trong khi đi đến sau, ta sẽ trao đổi hàng hoá của mình theo giá mà họ đã ấn định.” Thấy được tất cả những sự thuận lợi này, Bồ-tát nói với vị kia:

– Này anh bạn, thế thì anh cứ đi trước.

– Rất tốt, tôi sẽ đi trước. Vị thương nhân ngớ ngẩn trả lời.

Rồi anh ta thắng các cỗ xe và lên đường. Hành trình, anh ta rời bỏ nơi cư trú của loài người và đi đến vùng biên giới sa mạc. (Bấy giờ, các sa mạc gồm có năm loại như sau: sa mạc trộm cướp, sa mạc thú dữ, sa mạc không có nước, sa mạc ma quỷ, và sa mạc không có thức ăn. Sa mạc thứ nhất là khi đi ở trên đường sẽ bị bọn cướp bao vây. Sa mạc thứ hai là khi đi ở trên đường sẽ bị những con sư tử và những con thú hoang khác bao vây. Sa mạc thứ ba là khi đi ở trên đường sẽ không có nước để dùng. Sa mạc thứ tư là khi đi ở trên đường sẽ bị những yêu ma bao vây. Và sa mạc thứ năm là khi đi ở trên đường sẽ không tìm ra được rễ củ và những thứ thức ăn khác. Trong năm loại sa mạc này, hai sa mạc cần nói đến là sa mạc không có nước và sa mạc ma quỷ.)

Vì thế, vị thương nhân trẻ ngu ngốc này cho đặt những bình nước lớn lên xe, đổ đầy nước vào và khởi hành băng qua sa mạc dài sáu mươi dặm. Bấy giờ, khi anh ta đã đi đến giữa sa mạc, một con quỷ dạ xoa sống ở đó nói thầm thế này: “Ta sẽ làm cho những người này vứt hết nước dự trữ của họ, và sẽ ăn thịt họ khi họ mệt lữ.” Vì thế bằng thần lực của mình, nó biến hoá ra một cỗ xe đẹp được kéo bởi những con bò trắng thuần chủng. Rồi cùng với một đoàn tùy tùng hơn mười con quỷ dạ xoa, tay mang cung, ống đựng tên, gươm và tấm chắn, nó cỡi lên cỗ xe đó giống như một vị đế vương. Nó dắt những hoa sen xanh và hoa súng trắng quanh đầu, làm cho tóc tai và áo quần ướt sũng, còn những bánh xe thì làm cho dính đầy bùn. Và những người hầu của nó, kẻ trước kẻ sau cùng đi với nó, với tóc tai và áo quần ướt sũng, với những vòng hoa sen xanh, hoa súng trắng quấn quanh đầu và những bó sen trắng trong tay, miệng nhai những cọng sen nhỏ giọt nước và bùn. Như vậy, chúng đi đến chỗ những người này.

Bấy giờ, những người trưởng đoàn lữ hành có thói quen thế này: mỗi khi có gió thổi ngược, họ sẽ đánh xe lên phía trước cùng với những người tuỳ tùng vây quanh để tránh bụi. Nhưng khi gió thổi từ phía sau, họ sẽ đánh đi ở sau. Vào lúc này, gió đang thổi ngược chiều nên vị thương nhân trẻ đánh xe lên phía trước. Khi con quỷ dạ xoa nhận biết được vị thương nhân đến gần, nó đưa chiếc xe của nó sang một bên đường và ân cần chào đón anh ta, rồi hỏi anh ta đang đi đâu. Vị trưởng đoàn lái buôn cũng đưa xe mình qua một bên đường để cho những cỗ xe sau đi qua. Trong khi dừng lại bên đường, anh ta nói với con quỷ Dạ-xoa:

– Thưa ông, chúng tôi vừa rời Ba-la-nại. Chúng tôi nhận thấy rằng ông trang sức những bông sen xanh và hoa súng trắng ở trên đầu, tay lại cầm hoa sen trắng và đỏ, còn những người hầu của ông thì đang nhai những cọng sen. Tất cả các ông đều lấm bùn và ướt sũng. Vậy có phải các ông đã gặp mưa khi đi trên đường, gặp được những hồ nước phủ đầy hoa sen và hoa súng?

Nghe thế, con quỷ dạ xoa liền giải thích:

– Bạn nói gì vậy? Ở đằng kia đã hiện rõ vệt đen thẫm của rừng xanh. Từ nơi đó trở đi, không còn có thứ gì khác ngoài nước ngập khắp khu rừng. Ở đấy trời mưa luôn và ao hồ ngập đầy nước, khắp nơi đều có các ao hồ phủ đầy hoa sen và hoa súng.

Rồi khi thấy đoàn xe này đi ngang qua, nó hỏi:

– Đoàn xe này đi đến đâu?

Họ trả lời:

– Chúng tôi đi đến chỗ kia…

– Các vị chở hàng hóa gì trong các cỗ xe này?

Họ trả lời cho nó biết. Rồi khi nhìn thấy cỗ xe cuối cùng đi qua, nó hỏi:

– Các vị chở gì trong cỗ xe này mà trông nó di chuyển nặng nhọc quá vậy?

– À, chở nước trong đó.

– Đoạn đường đã đi qua, các vị thật hợp lý khi mang nước theo. Nhưng bây giờ thì không còn cần thiết nữa khi ở phía trước nước quá dồi dào. Nếu đập vỡ các bình chậu và đổ hết nước đi, các vị sẽ di chuyển được dễ dàng hơn.

Rồi nó nói thêm:

– Thôi, các vị hãy tiếp tục cuộc hành trình của mình đi. Còn chúng tôi phải đi vì dừng nghĩ ở đây cũng đã lâu.

Rồi đi xa thêm một quãng nữa, cho đến khi khuất dạng, nó quay trở lại kinh đô Dạ-xoa của mình và trú ở đó.

Nghe theo lời xúi giục của con quỷ dạ xoa, vị thương nhân ngu ngốc đã hành động một cách điên rồ. Anh ta đập vỡ tất cả bình chậu và đổ hết nước đi, không giữ lấy dầu chỉ một giọt trong lòng bàn tay. Rồi anh ta ra lệnh cho đoàn xe tiếp tục lên đường. Nhưng họ không tìm đâu ra được một giọt nước ở phía trước, và cơn khát đã làm cho họ kiệt sức. Họ vẫn tiếp tục hành trình suốt cả ngày. Đến khi mặt trời lặn, họ cởi ách bò và xếp thành một vòng tròn, rồi cột những con bò vào những bánh xe. Nhưng bò không có nước uống, người không có nước nấu cơm nên cả đoàn kiệt sức nằm gục xuống đất mà ngủ. Rồi đến khi đêm xuống, những con quỷ Dạ-xoa đi ra khỏi kinh đô của chúng và giết chết từng người và từng con bò một. Sau khi ăn thịt họ xong, những con quỷ Dạ-xoa đã để lại một đống xương trắng và ra đi. Như vậy, chỉ vì một mình gã thương nhân trẻ ngu ngốc, đã đưa cả đoàn lái buôn đến sự diệt vong, khiến xương của họ bị vung vãi khắp nơi, trong khi năm trăm cỗ xe vẫn đứng ở đấy với tất cả hàng hóa còn nguyên vẹn.

Bấy giờ, sau khi tính toán thời gian gã thương nhân trẻ tuổi ngu ngốc đã ra đi được sáu tuần, Bồ-tát bắt đầu rời khỏi kinh thành cùng với năm trăm cỗ xe, và sau đó đi đến vùng biên giới sa mạc. Ở đấy, Ngài cho đổ đầy nước vào các bình chậu và dự trữ một nguồn nước dồi dào. Rồi cho đánh trống lên, Ngài tập họp đoàn người lại trong trại và nói với họ thế này:

– Không được phép dùng một bụm nước nào khi chưa có sự cho phép của ta. Có những loài cây độc ở trong hoang mạc này, vì thế các vị không được ăn bất cứ thứ lá, hoa, trái nào mà trước đây các vị chưa từng ăn, không được ăn khi chưa hỏi ta.

Khuyên bảo mọi người như vậy xong, Bồ-tát cùng với năm trăm cỗ xe tiến vào sa mạc. Khi Ngài đi đến giữa sa mạc, con quỷ dạ xoa giống như trường hợp trước đây, đã xuất hiện trên con đường Bồ-tát đi. Nhưng khi nhìn thấy con quỷ dạ xoa, Bồ-tát thấy rõ bản chất của nó, nên nghĩ: “Không có nước ở trong cái sa mạc Vô thuỷ này. Người này với đôi mắt đỏ ngầu và có thái độ hung hăng, những cỗ xe kia lại không có ai bảo vệ. Rất có thể nó đã xúi giục gã thương nhân trẻ ngu ngốc đi trước ta đổ hết nước đi, và sau đó chờ khi họ kiệt sức, đã ăn thịt vị thương nhân kia và tất cả đoàn người của anh ta. Nhưng nó không biết tài trí sẵn có của ta.” Thế rồi Ngài quát mắng con quỷ Dạ-xoa:

– Hãy xéo đi! Chúng tôi là những thương nhân. Chúng tôi sẽ không đổ bỏ nước mà mình có khi chưa nhìn thấy nơi nào có nhiều nước hơn. Chỉ khi nào chúng tôi nhìn thấy một nơi có nhiều nước hơn, chúng tôi mới tin tưởng để đổ bỏ những chậu nước này, làm cho những cỗ xe nhẹ đi.

Con quỷ Dạ-xoa đánh xe lên thêm một quãng nữa cho đến khi khuất dạng, rồi quay trở lại nhà mình ở kinh đô Dạ-xoa. Khi con quỷ dạ xoa đi rồi, đoàn người của Bồ-tát đã nói với Ngài:

– Thưa chủ nhân, chúng tôi nghe bọn người kia nói rằng ở đằng kia có một khu rừng rậm và trời thường có mưa ở đấy. Bọn họ mang hoa sen trên đầu và cầm hoa súng nơi tay, còn miệng thì nhai những cọng cây đó, trong khi tóc tai và áo quần của họ thì sũng ướt, nước chảy ròng ròng. Chúng ta hãy đổ nước đi. Với những cỗ xe nhẹ, chúng ta sẽ đi nhanh hơn.

Khi nghe họ nói vậy, Bồ-tát ra lệnh cho dừng lại, tập họp tất cả mọi người lại và nói với họ:

– Hãy nói cho ta biết, trước đây có người nào trong các vị nghe rằng có ao hồ trong sa mạc này không?

Họ trả lời:

– Không thưa ông chủ, đó chính là lý do vì sao nó được gọi là “Sa mạc Vô thuỷ”.

– Chúng ta vừa nghe một vài người nói rằng trời đang mưa ngay ở bìa rừng phía trước. Vậy gió mưa có thể thổi đi được bao xa?

– Được một dặm, thưa ông.

– Có người nào ở đây đã chạm được cơn gió mưa này không?

– Không, thưa ông.

– Cách xa bao nhiêu thì có thể thấy được đầu mây?

– Khoảng một dặm, thưa ông.

– Có ai ở đây nhìn thấy đầu mây không?

– Không có ai nhìn thấy cả thưa ông chủ.

– Các vị có thể thấy được ánh chớp cách bao xa?

– Bốn hoặc năm dặm, thưa ông.

– Có người nào ở đây nhìn thấy tia chớp không?

– Không có ai cả, thưa ông.

– Người ta có thể nghe được tiếng sấm rền cách bao xa?

– Khoảng hai ba dăm, thưa ông.

– Có ai ở đây nghe tiếng sấm rền không?

– Thưa ông, không có ai cả.

– Đó không phải là người mà là những con quỷ Dạ-xoa. Chúng sẽ quay trở lại với hy vọng ăn được thịt chúng ta lúc chúng ta đã kiệt sức sau khi làm theo lời khuyên của chúng là đem đổ hết nước đi. Vị thương nhân trẻ đi trước chúng ta không phải là một người tài trí, chắc chắn anh ta đã bị lừa, đem đổ hết nước đi để rồi bị ăn thịt khi đã kiệt sức. Chúng ta sẽ tìm thấy năm trăm cỗ xe được để lại với hàng hóa còn y nguyên như lúc khởi hành. Nội trong ngày nay chúng ta sẽ gặp những cỗ xe đó. Hãy đi càng nhanh càng tốt, không được đổ môt giọt nước nào cả.

Sau khi nói như vậy để thuyết phục đoàn người, Bồ-tát tiếp tục hành trình cho đến khi bắt gặp năm trăm cỗ xe đứng đấy với hàng hóa còn y nguyên, còn xương người lẫn xương bò nằm vung vãi khắp nơi. Ngài cho tháo ách xe ra và sắp xếp lại thành một hình tròn, tạo thành một trại phòng ngự vững chắc. Ngài cho người và bò của mình ăn tối sớm, rồi sắp cho đàn bò nằm nghỉ ở giữa bọn họ.

Còn bản thân Ngài cùng với những người lãnh đạo đoàn lữ hành, cầm gươm dao đứng canh gác suốt cả ba canh trong đêm chờ cho đến khi rạng đông. Vào lúc tảng sáng ngày hôm sau, khi cho đàn bò ăn và làm xong mọi thứ cần thiết, Bồ-tát vứt bỏ những cỗ xe yếu của mình để lấy những cỗ xe mạnh hơn, bỏ đi những mặt hàng ít giá trị của mình để lấy những hàng hóa vô chủ có giá trị nhất. Rồi đi tiếp đến nơi đã định, Bồ-tát bán các hàng hoá với giá tiền gấp hai ba lần giá vốn, sau đó trở về kinh thành của mình mà không mất đi một người nào trong đoàn.

* * *

Kết thúc câu chuyện, đức Thế Tôn nói:

– Này các cư sĩ, như vậy chính trong đời quá khứ, những kẻ ngu ngốc đã bị diệt vong hoàn toàn, trong khi những người trung thành với sự thật vô hý luận, đã thoát khỏi bàn tay của ma quỷ, đạt đến đích của mình và trở về nhà an toàn.

Rồi sau khi nói lên mối liên hệ của hai câu chuyện xong, vì mục đích trình bày sự thật vô hý luận này, đức Thế Tôn đọc lên bài kệ sau:

Có một số người đã nói lên

Sự thật tối thượng, vô hý luận

Nhưng người tà luận lại khác đi

Nói lên tà luận, không chân thật

Người trí y đây được khai ngộ

Nắm chặt sự thật vô hý luận.

Khi dạy pháp Pháp chân thật vô hý luận như vậy xong, đức Thế Tôn nói tiếp:

– Những gì được gọi là con đường chân thật vô hý luận, không chỉ đem lại ba thiện sự thành tựu, sáu cõi Trời dục giới, những điều thành tựu ở Phạm thiên giới, mà sau cùng còn đem lại quả vị A-la-hán. Trong khi những gì được gọi là con đường tà luận, sẽ dẫn đến tái sanh vào bốn ác thú hoặc tái sanh làm người hạ liệt nhất.

Kế tiếp, đức Thế Tôn tiếp tục thuyết giảng mười sáu hành tướng của Tứ Đế. Kết thúc thời pháp, năm trăm vị nam cư sĩ chứng được quả Dự lưu

Sau khi thuyết pháp, kể hai câu chuyện, thiết lập mối quan hệ và nối kết chúng lại với nhau xong, đức Thế Tôn kết thúc bằng cách nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) là chàng thanh niên thương nhân ngu ngốc, đệ tử của Đề-bà-đạt-đa là những người đi theo vị thương nhân đó, đệ tử của ta là những người đi theo vị thương nhân có trí, còn vị thương nhân trí tuệ ấy chính là ta.
avatar
haquangto
Admin

Tổng số bài gửi : 206
cảm ơn : 0
Join date : 13/12/2009
Age : 28
Đến từ : canh long tu

http://gdptcanhlong.forum-viet.net

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết